Cảm nhận vẻ đẹp Tú Xương qua “Thương vợ”

Các nhà thơ Nho sĩ thường hiếm khi viết về người vợ, nhất là khi người vợ còn sống. Lịch sử mười thế kỉ văn học trung đại với hàng nghìn tác giả, hàng vạn tác phẩm, song số tác phẩm viết về người vợ rất hiếm hoi. Có chăng các thi sĩ thường làm đối, trướng khóc vợ khi các bà qua đời như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Ngô Thi Sĩ… Nhưng Tú Xương thì khác, người vợ đã trở thành hình tượng với ý nghĩa đầy đủ nhất. Hình ảnh bà Tú trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của ông với cách gọi thân mật dân dã: “bu nó, mình…”. Đặc biệt bài thơ “Thương vợ” tiêu biểu nhất trong đề tài về người vợ của Tú Xương, ta không chỉ thấy được vẻ đẹp của bà Tú mà còn cảm nhận được những vẻ đẹp của ông Tú khuất lấp theo sau:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không!”

     Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương, sống trong buổi giao thời đầy nghèo khổ nửa thực dân Pháp – nửa phong kiến. Ông là người thông minh, ham học, hào hoa, phóng túng, có tài làm thơ hay nhưng lại lận đận trên con đường thi cử. Kho tàng thơ văn của Tú Xương tuy không nhiều nhưng có nhiều bài rất đặc sắc, đạt đến trình độ tuyệt mỹ về cả nội dung và nghệ thuật và được xem như những bài thơ bất tử. Minh chứng rõ ràng nhất đó là thi phẩm “Thương vợ” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. 

     Mở đầu tác phẩm, Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinh của bà Tú, qua đó thể hiện lòng thấu hiểu nỗi nhọc nhằn, vất vả và sự biết ơn của bản thân đối với người vợ tần tảo: 

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.” 

Hai chữ “quanh năm” là để chỉ thời gian với sự nối tiếp ngày này qua tháng khác không ngừng nghỉ. Nhà thơ đã mượn hai chữ “quanh năm”, mượn chiều dài thời gian năm tháng để diễn tả nỗi vất vả của bà Tú, không phải nỗi vất vả được đo đếm bằng ngày, bằng tháng hay bằng năm mà là hết năm này qua năm khác. Nghĩa là sự vất vả của bà Tú cứ nối tiếp theo chiều dài của thời gian năm tháng, theo tuần tự của cả đời người. Sự lặp đi lặp lại không chỉ nói lên chiều dài của nỗi vất vả mà còn khắc sâu nỗi nhọc nhằn ấy với chiều dài thời gian tuần hoàn trói buộc cuộc đời bà Tú không có lối thoát. Người dân lao động xưa, muốn nói cảnh làm ăn cơ cực của mình – cũng một cách triệt để để tạo ra thành ngữ “quanh năm tận tháng” bên cạnh thành ngữ “đầu tắt mặt tối”. Ông Tú học cách nghĩ, cách nói đó của quần chúng để ghi công lao của bà Tú về mặt thời gian lao động.

     Câu thơ không chỉ nhấn mạnh thời gian của sự khó nhọc mà còn cho người đọc thấy nơi chốn bán buôi của bà Tú là ở “mom sông”, đó là phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông. Mom sông Vị là nơi đầu chỗ sông Vị Hoàng chảy thông ra sông Nam Định. Thời sông Vị Hoàng chưa bị lấp thì mom sông này là nơi buôn bán của bà con tiểu thương, thuyền bè qua lại hay đậu ờ đấy. Bà Tú có ngôi hàng buôn chung gạo với người khác ở mom sông đó. Về sau, sông Vị Hoàng bị lấp. Chốn buôn bán của bà Tú cũng tàn lụi theo. Nhưng như Xuân Diệu nhận xét (ngay khi sông Vị Hoàng chưa bị lấp): “Ở mom là cheo leo, chênh vênh chứ không phải ở một cái bến ngang sông tấp nập bình thường.” Nơi chốn ấy gợi sự chênh vênh càng làm cho người đọc dễ dàng hình dung địa thế mấp mô, công việc của bà Tú không chỉ vất vả mà còn có sự nguy hiểm rình rập chực chờ. Thế nhưng bà Tú chẳng nề hà, sẵn sàng chấp nhận mọi khó nhọc để đua tài “buôn chín bán mười” ở “đầu sông cuối bãi” – cái mom sông chênh vênh, nguy hiểm ấy quanh năm vẫn thấy thấp thoáng bóng bà với gánh nặng trên vai.

     Ở câu thừa đề, Tú Xương đã dùng số từ để diễn tả gánh nặng mưu sinh của bà Tú. Để người đọc có thể cảm nhận được ý tứ sâu xa trong lời thơ, Xuân Diệu đã chọn một cách diễn đạt khác vẫn đảm bảo được ý về nghĩa nhưng không đặc sắc như câu thơ của Tú Xương: 

“Nuôi đủ chồng con cả sáu người” 

Tú Xương không chọn một con số để biểu đạt chung gánh nặng của bà Tú phải gánh gồng, thay vào đó, ông tách riêng “năm” và “một” rồi đặt giữa các con số liên từ “với” giống như phép cộng. Từ đó đem đến cảm giác gánh nặng trên đôi vai bà Tú lại càng trở nên lớn lao, nặng nề hơn. Đồng thời, tách riêng còn đem lại cảm nhận về một gánh nặng rất cân xứng mà bà Tú phải gánh vác, một bên là năm đứa con thơ, một bên là ông Tú. Tú Xương đã đặt dụng ý vào trong việc tách riêng con số thể hiện sự tự ý thức của nhà thơ về nỗi vất vả của vợ, nuôi con là trách nhiệm của người mẹ, nuôi chồng là gánh nặng của người vợ. Thêm nữa, khi tách riêng ông Tú với các con, câu thơ đã cho ta thêm cảm nhận rằng bà Tú nuôi ông Tú vất vả bằng năm đứa con. Xuân Diệu có nhận xét rất hay khi đọc câu thơ này: “Thì ra chồng cũng là một thứ con còn dại, phải nuôi. Đếm con, năm con, chứ ai lại đếm chồng, một chồng – tại vì phải nuôi như nuôi con cho nên mới liệt ngang hàng mà đếm đế nuôi đủ”. Mà bà Tú nuôi chồng đâu có đơn giản như nuôi con. Cơm ăn đã đành, đôi khi phải có tí rượu tí trà cho ông ngâm nga câu thơ câu phú. Áo mặc đã đành, còn phải có bộ cánh tử tế cho ông đi đây đi đó, chứ ai lại để cho ông quanh năm 

“Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông”

và 

“Một đoàn rách rưới con như bố”

Lại phải cho ông xổng xểnh ít tiền trong túi để gặp bạn, gặp bè. Ấy thế mà bà nuôi đủ, tức là đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong “Phú thầy đồ dạy học” Tú Xương đã viết về bà Tú: 

“Cơm hai bữa: cá kho rau muống

Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô”

Chữ “đủ” đã nói được hết nỗi vất vả nhọc nhằn cũng như tình yêu thương chồng con của bà Tú. Đây là hai câu thơ ông Tú viết về người vợ của mình cho nên ta không chỉ thấy hình ảnh bà Tú còn thấy tâm tư ông Tú, một người chồng ý thức được sự đoảng vị của mình nên càng tôn trọng bà Tú, thay các con nói lời tri ân với bà Tú.

     Đến với hai câu thực, Tú Xương trở lại với hình ảnh vốn quen thuộc với thơ ca dân gian. 

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,”

Đó là hình ảnh “con cò”, đây cũng là hình ảnh gợi thân phận cuộc đời người phụ nữ thường chịu nhiều thiệt thòi, bất công trong xã hội cũ:

“Con cò mà đi ăn đêm 

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”

hay 

“Con cò bay lả bay la

Bay từ đồng ruộng bay ra cánh đồng” 

Trở lại với hình ảnh đã quen thuộc với thơ cơ dân gian, Tú Xương đã ghi dấu ấn sáng tạo của mình:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

Trong thơ ca dân gian, dùng cách diễn đạt để chỉ chung “con cò” để nói về nhiều thân phận người phụ nữ còn Tú Xương chọn lối biểu đạt có tính xác định cụ thể “thân cò” để gợi rõ, chỉ rõ đến bà Tú. Và cách diễn đạt “thân cò” biểu đạt hơn nữa nỗi nhọc nhằn, tủi thân kết hợp với phép đảo ngữ với từ láy tượng hình “lặn lội” ở đầu dòng thơ để miêu tả hình ảnh bà Tú lam lũ vất vả và cũng chất chứa nỗi tủi phận khi phải gánh vác một mình. Câu thơ vận dụng phép tiểu đối lấy không gian rợn ngợp mênh mông “quãng vắng” đối với hình ảnh “thân cò” để tô đậm hơn nữa sự nhỏ bé, lẻ loi của người phụ nữ phải lo toan, gánh vác một mình. Bóng dáng nhỏ bé của bà Tú trông sao mà tội nghiệp, mà xót xa. 

     Câu tiếp theo trong cặp câu thực thể hiện sự đăng đối khi cũng  dùng phép đảo ngữ và từ láy đặt lên vị trí đầu dòng thơ. 

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Nhưng nếu dòng thơ trên là từ láy tượng hình để gợi hình dung về một bà Tú không được nương dựa vào người chồng của mình thì “eo sèo” lại là từ láy tượng thanh mở ra cảm nhận về không gian nơi chốn bán buôn của bà Tú. “Eo sèo” là cãi vã để tranh hàng, giành khách của nhau. Trong bài “Văn tế sống vợ”  ông Tú một lần nữa đã gợi đến cái cực này của bà Tú: 

“Đầu sông, bãi bến, đua tài buôn chín bán mười”

Cũng với từ láy ấy, tác giả đã cho người đọc thấy được đó là một nơi chốn phức tạp, xô bồ với những âm thanh tranh giành, của tiếng kì kèo cãi cọ, một nơi chốn không phù hợp với xuất thân dòng dõi như bà Tú; vậy mà vì gánh nặng mưu sinh, vì chồng vì con, bà phải dấn thân. Không gian mặt nước không chỉ để nói nơi bán buôn “mom sông” mà gắn với cụm tự “buổi đò đông” còn cho ta thấy câu thơ là một lời dặn dò trong thơ dân gian 

“Con ơi nhớ lấy câu này 

Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua” 

Từ đó có thể hiểu thêm công việc bán buôn của bà Tú không chỉ vất vả mà còn phải đối diện cả những nguy hiểm rình rập. Qua đó tô đậm sự hi sinh, vất vả, chịu thương chịu khó của bà Tú đối với cha con ông Tú. 

Hai câu thơ là những cảm nhận của ông Tú về công việc của bà Tú và chính vì vậy ta không chỉ thấy được sự tảo tần, lo toan gánh vác, nỗi nhọc nhằn và cả niềm tủi phận của bà Tú mà ta còn cảm nhận được cảm xúc của ông Tú. Trước hết là ý thức được sự đoảng vị của mình, thấm thía sự hi sinh của người vợ, có cả những day dứt khi không làm được gì nhiều để có thể đỡ đần, để có thể trở thành người bà Tú nương dựa lúc bà cần một người để sẻ chia.

     Không chỉ mang vẻ đẹp của sự tần tảo sớm khuya, của tinh thần chịu thương chịu khó mà đặc biệt hơn cả, bà Tú làm tất cả vì tình yêu chồng thương con sâu sắc. 

“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.” 

Tú Xương tiếp tục trở lại với việc vận dụng số từ nhưng khác với hai câu đề tách số từ “năm” và “một” tạo thành phép cộng; ở hai câu luận, số từ được biểu đạt ở cấp số nhân. Và cũng khác khi ở hai câu này dùng lối biểu đạt tăng tiến, những số từ ấy gắn với những chữ “duyên – nợ” và “nắng – mưa”. Chữ “duyên” vố là từ gốc ở đạo Phật sau được dùng trong đời sống để chỉ duyên phận, duyên tình của con người. Theo quan niệm dân gian, chữ “duyên” là để nói tình cảm hạnh phúc vợ chồng, ngược lại là “nợ” 

“Cành tre năm bảy cành tre

Phải duyên thì lấy chớ nghe họ hàng” 

hay 

“Chồng gì anh vợ gì tôi 

Chẳng qua là cái nợ đời mà thôi” 

Trong câu thơ của Tú Xương, với số từ “một – hai”, duyên thì ít, nợ thì nhiều. Nghĩa là trong sự gắn kết  với ông Tú, bà Tú được vui với duyên thì ít mà vất vả, nhọc nhằn thì nhiều. Và thành ngữ “năm nắng mười mưa” đã đem lại cho người đọc hành dung môth cách cuu thể về cuộc sống bán buôn vất cả của bà Tú. Nếu câu thơ 

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

là gợi về sự tảo tần sớm khuya thì câu thơ 

“Năm nắng, mười mưa, dám quản công” 

lại cho ta thấy sự dãi dầu nắng mưa không kể ngày tháng, không quản ngại thời tiết dù nắng cháy hay mưa giông. Nghệ thuật đối trong hai câu thơ không chỉ cho ta thấy rõ hơn nỗi vất vả của bà Tú mà còn làm sáng lên phẩm chất nhẫn nhịn, thương yêu của bà dành cho cha con ông Tú: “âu đành phận” và “dám quản công”. Bà Tú nhận về mình tất cả những thiệt thòi, nhẫn nhịn không lời than trách dành cho ông Tú. 

     Ở hai câu kết, ông Tú đã mượn lời bà Tú tự chửi mình. 

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trong bài “Gặp người ăn xin”, ông cũng đã từng chửi – chửi mình mà thực là chửi đời : 

“Người đói, ta đây cũng chẳng no 

Cha thằng nào có, tiếc không cho”. 

Chỉ có chỗ khác là, lần này, lời chửi tuy có ném vào đời, nhưng trước hết là ném vào mình. Để tự trách mình thì ông Tú phải chửi. Mà phải đặt vào miệng bà Tú mà xỉ vả mình thì mới đích đáng chứ! Nhưng bà Tú vốn “con gái nhà dòng”, đời nào lại chanh chua, thô tục thế, nhất là lại chửi chồng – tuy rằng trong lời chửi, cứ lắng tai mà nghe – có phải ông Tú đã khéo pha vào đó chút thoáng tình tứ của giọng chửi yêu, mắng yêu rồi đó sao? Tiếng chửi của Tú Xương trước hết là hướng về chính mình, về sự hờ hững, về việc không làm tròn được vai trò, trách nhiệm một người chồng, một người cha khiến cho bà Tú phải vất vả, nhọc nhằn. Tiếng chửi này làm cho người đọc thấy rõ hơn về ông Tú – một ông Tú đáng trách thì ít, đáng thông cảm thì nhiều hơn bởi bề ngoài tưởng là hờ hững, tưởng là “ăn ở bạc” để mặc bà Tú phải tự xoay sở trong nỗi tủi phận nhưng thực ra không phải như vậy. Những câu thơ thấu hiểu xót xa dằn vặt của ông Tú đã cho thấy ông không hề vô tình. Hai chữ “thói đời” không chỉ dừng lại ở ẩn ý nói đến ông Tú mà còn gợi nghĩa rộng hơn như vậy, đó là xã hội thực dân phong kiến với những giáo lý khắt khe ràng buộc ông Tú để ông không thể cùng gánh vác gánh nặng mưu sinh của bà Tú. Thêm nữa tiếng chửi thói đời còn là tiếng chửi đương nhiên hướng đến xã hội đầy bất công đối với người phụ nữ. Họ phải chịu thiệt thòi dù với những phẩm chất, giá trị đó, họ xứng đáng có một cuộc sống hạnh phúc. Vậy mà họ phải lo toan, vất vả, hạnh phúc hiếm hoi. 

     Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là “Bà Chúa Thơ Nôm”. Nguyễn Tuân thì gọi Tú Xương là “Ông hoàng thơ Nôm”. “Thương vợ” là một trong những bài thơ thể hiện rất rõ tài thơ Nôm của “Ông hoàng Tú Xương”. “Mom sông”, “Lặn lội thân cò”, “Eo sèo mặt nước”…, chữ dùng chính xác đến mức không thể thay thế bằng ngôn từ nào khác. Mà toàn là những từ ngữ nôm na rất đỗi quen thuộc trong đời sống hằng ngày của nhân dân. “Thương vợ” là một bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường – một thể thơ ngoại nhập được giữ nguyên phép tắc, luật lộ vốn rất chặt chẽ, tề chỉnh. Bài Thương vợ đã tuân theo luật lệ đó một cách nghiêm chỉnh : những câu thực, câu luận đối nhau chan chát. Vậy mà đọc thơ, không hề cảm thấy đây là thơ luật. Lời thơ cứ như lời nói thường, rất tự nhiên. Những câu thực, câu luận dường như tiếp nối nhau trong một mạch, liền một hơi, không ai nghĩ đến chuyện đối từ, đối ý, đối thanh bằng bằng trắc trắc,… Nghệ thuật như vậy là đã đạt đến chỗ tinh vi, nhuần nhuyễn nhất, thật sự trở thành sự sống thể hiện cái tài của nhà thơ. 

Có một con người không xuất hiện trực tiếp là ông Tú, nhưng con mắt và trái tim của ông thì luôn luôn hiện hữu. Con mắt ông nhìn thấy rõ mọi nỗi đắng cay cực nhọc hàng ngày, và con tim thì thấu hiểu những nỗi cô đơn, tâm trạng âm thầm chịu đựng của bà. Bài thơ “Thương vợ” là một bản tự kiểm điểm, tự khiển trách hết sức chân thành và nghiêm khắc của Tú Xương. Mỗi lời thơ như một tiếng thở dài đau xót của một con người rất có ý thức trách nhiệm, nhưng bất lực. Đó là tấm lòng thương yêu cảm phục và biết ơn rất chân thành của người chồng đối với người vợ vì mình mà chịu nhiều đắng cay vất vả.

Bình luận về bài viết này