Tâm trạng nhân vật trữ tình trong “Tự tình” (II)

     Tiếng thơ của Hồ Xuân Hương là tiếng lòng thổn thức của một trái tim biết yêu thương đồng cảm với số phận những con người trong xã hội phong kiến. Vần thơ hay chính là tiếng lòng mang nặng tình đời. Thơ Hồ Xuân Hương chính là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ với nỗi niềm thiết tha nghẹn ngào, cay đắng không chỉ là riêng bà mà cong là của tất cả những người phụ nữ bất hạnh trong xã hội phong kiến xưa. Bà đã nói lên tiếng nói nhân đạo, vẽ ra trước mắt người đọc số phận của những người bất hạnh, để rồi trái tim ta ngân lên cùng nhịp đập với số phận đau thương của họ. Hồ Xuân Hương là người đầu tiên trong lịch sử dân tộc đã nói lên tiếng nói yêu thương số phận những người phụ nữ bất hạnh. Đặc biệt, qua tác phẩm “Tự tình” (II), với những ngôn từ giản đơn và hàm súc, Hồ Xuân Hương đã khắc hoạ một cách sinh động tâm trạng người phụ nữ: 

“Canh khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!” 

     Hồ Xuân Hương là một trong những nữ thi sĩ xuất sắc của Việt Nam, số lượng tác phẩm bà để lại khá nhiều và phong cách sáng tác thơ chủ yếu của Hồ Xuân Hương chính là tả cảnh ngụ tình. Bà còn được biết đến với hình ảnh của một nữ nhà thơ viết nhiều về thân phận người phụ nữ, là người dũng cảm đề cao vẻ đẹp, sự hi sinh và đức hạnh của người phụ nữ, đồng thời lên tiếng bên vực cho họ và phê phán lên án gay gắt chế độ xã hội cũ. “Tự tình” là một trong những bài thơ hay, chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc của chính tác giả và cũng là của người phụ nữ nói chung.

     Mở đầu bài thơ đã gợi ra những cảm nhận đầu tiên về không gian và thời gian với cách gọi thời gian trực tiếp 

“Canh khuya văng vẳng trống canh dồn,”

và gián tiếp mở ra không gian. Hai chữ “đêm khuya” muốn diễn tả một thời khắc đã đi qua cái ồn ào hoạt động trong cuộc sống con người, đó là khoảng thời gian tĩnh lặng nhất và cũng là lúc con người có thể đối diện với lòng mình rõ nhất. 

     Âm thanh tiếng trống canh văng vẳng đã mở ra không gian của đêm khuya với việc vận dụng bút pháp vẽ mây đẩy trăng rất đặc trưng của thơ trung đại: mượn âm thanh để miêu tả không gian. Phải là không gian rất rộng lớn, tĩnh lặng mới có thể đón nhận được âm thanh từ xa. Từ láy “văng vẳng” còn cho thấy được tâm thế của nhân vật trữ tình trong không gian đêm khuya. Và âm thanh tiếng trống canh được miêu tả “trống canh dồn” đã gợi một âm thanh gấp gáp với nhịp nhanh. Đồng thời, sự miêu tả âm thanh trong dòng thơ dường như không đi theo quy luật thường thấy của tiếng trống điểm nhịp thời gian theo từng canh mà đây là âm thanh được cảm nhận bằng tâm trạng con người. Chữ “dồn” vừa gợi bước đi của thời gian cho thấy cảnh được diễn tả theo sự vận động của thời gian đồng thời còn biểu đạt tâm trạng rối bời, bức bối, lo lắng trước thời gian đang trôi qua. Có lẽ nhân vật trữ tình đang lo lắng trước thời gian trôi nên mới cảm thấy thời gian trôi nhanh hơn quy luật thông thường. 

     Câu thừa đề không gieo nhịp theo lẽ thường của thơ thất ngôn 1/3/3

“Trơ cái hồng nhan với nước non.”

Nhịp lạ kết hợp với phép đảo ngữ đặt động từ “trơ” lên đầu dòng thơ và tách riêng thành một nhịp. Cách tách nhịp này chính là nhằm để nhấn mạnh tâm thế trơ trọi, cô đơn lẻ loi của con người trước không gian và thời gian. Thêm nữa, phần còn lại của dòng thơ được tác giả sử dụng phép tiểu đối lấy cái “hồng nhan” đối nghịch với “nước non”. Hai chữ “hồng nhan” là để chỉ nhan sắc, vẻ đẹp người phụ nữ ở đây gắn với “cái” có tín xác định cụ thể. Vì vậy lời thơ đã gợi ra một cách rõ nét nhân vậy trữ tình. Đồng thời hai chữ “hồng nhan” gắn với “cái” còn đem lại cho lời thơ sắc thái chua chát mỉa mai cho nhan sắc vẻ đẹp thì có, hạnh phúc tình yêu thì không. Hình ảnh cái “hồng nhan” đối lập với “nước non” là nghệ thuật đối làm nổi bật giữa cái hữu hạn là một thân phận với vô hạn là đất trời, nước non vũ trụ bao la. Từ đó làm rõ thêm sự cô đơn lẻ loi tuyệt đối của con người. Thế nhưng dù trong tâm thế đầy cô đơn, đầy nhỏ bé đầy chua chát về duyên phận ta vẫn thấy lời thơ ẩn chứa kín đáo sự thách thức trước cuộc đời, số phận. Hai câu đề của bài thơ đã lấy thời gian không gian đêm khuya làm nền cho tâm trạng con người: tâm trạng cô đơn, là ý thức thấm thía hơn bao giờ hết sự bẽ bàng của duyên phận. Nhưng đằng sau nét tâm trạng ấy người đọc vẫn thấy ẩn chứa sự thách thức của con người cá nhân trước đời.

     Trong tâm trạng đầy bi kịch, Hồ Xuân Hương đã tìm đến men rượu để vơi bớt nỗi buồn 

”Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”

thế nhưng cụn từ “say lại tỉnh” lại thể hiện một vòng luẩn quẩn, say rồi tỉnh, tỉnh rồi say triền miên bế tắc, không có lối thoát. Và hình ảnh vầng trăng trong hai câu thơ đã trở thành hình tượng mang tính ẩn dụ để làm rõ nỗi niềm tâm trạng bi kịch của nhân vật trữ tình, đây là một thi liệu quen thuộc trong thơ ca và người ta bắt gặp hình ảnh này trong thơ Nguyễn Du “Truyện Kiều”. Đó là vầng trăng trong đêm thề nguyền của Thuý Kiều và Kim Trọng: 

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời 

Đinh ninh hai miệng một lời song song” 

Đó là một vầng trăng tròn đầy, viên mãn ẩn dụ tình yêu trọn vẹn. Chính trong thơ Hồ Xuân Hương hiện tượng này cũng trở đi trở lại nhiều lần nhưng chưa bao giờ người đọc bắt gặp một vầng trăng tròn đầy viên mãn. Như trong bài “Hỏi trăng” 

“Một trái trăng thu chín mõm mòn

Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom” 

Còn trong “Tự tình” thì đó là vầng trăng “bóng xế khuyết chưa tròn”. Nghệ thuật tăng tiến “xế, khuyết, chưa tròn” đã đem đến cho người đọc cảm nhận vầng trăng đã qua thời kì rực rỡ mà vẫn chưa tròn. Qua đó gợi nét nghĩa ẩn dụ về vầng trăng trong dòng thơ để nói về tình cảnh tâm thế nhân vậy trữ tình: tuổi xuân đã qua nhưng tình yêu chưa trọn vẹn. Có thể thấy hai câu thực đã không chỉ vận dụng phép đảo ngữ và ngắt nhịp lẻ để biểu đạt ý thơ mà bên cạnh đó, nghệ thuật đối được nhà thơ vận dụng để làm nổi rõ bi kịch vè thân phận người phụ nữ khao khát tình yêu, hạnh phúc mà không thể nào có được. Ở hai câu này, độc giả thấy rõ hơn tâm tư nhân vật trữ tình: nỗi bẽ bàng về duyên phận hẩm hiu, niềm tha thiết với tình yêu, hạnh phúc và đây cũng là giá trị nhân bản trong thơ Hồ Xuân Hương cũng như trong văn học. Tâm tư này của Hồ Xuân Hương đã không chỉ cho người đọc thấy rõ nỗi niềm riêng của nữ sĩ mà còn là tiếng lòng, tâm sự của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

     Những hình ảnh “rêu, đá” đều là những sự vật rất quen thuộc của đời sống và không chỉ ở bài thơ này, trong nhiều những bài thơ khác của Hồ Xuân Hương ta thường bắt gặp những sự vật nhỏ bé, thân thuộc và bình dị như vậy. Trong hai câu thơ, hai sự vật là “rêu, đá” được Hồ Xuân Hương đặt trong một cảm nhận rất khác lạ, “rêu” vốn yếu ớt, “đá” nằm dưới chân người đi rất đỗi bình thường thậm chí tầm thường. Thế nhưng trong hai câu thơ này, những sự vật ấy lại chất chứa một sức mạnh dữ dội. Nữ sĩ đã dùng phép đảo ngữ đặt động từ và bổ ngữ cho động từ lên đầu dòng thơ “xiên – đâm” và “ngang – toạc” để dùng những động từ chỉ hoạt động mạnh khắc sâu cái dữ dội, cái sức mạnh khác thường của “rêu” của “đá”. “Rêu” không chịu yếu mềm “xiên ngang mặt đất”, “đá” không chịu bé nhỏ mà vươn lên “đâm toạc chân mây”. 

Lời thơ đã cho ta thấy những sự vật không dừng lại ở sự miêu tả chân thực mà nhà thơ đã mượn những sự vật của đời sống để bộc lộ, bày tỏ những tâm tư, nỗi niềm sâu kín trong lòng. Cái dữ dội của “rêu, đá” chính là ẩn chứa nỗi phẫn uất dường như bị dồn nén muốn bùng nổ ở bên trong con người thể hiện một tính cách mạnh mẽ, bản lĩnh cứng cỏi, tinh thần phản kháng. Đó là thái độ không cam chịu, không bị khuất phục trước những bất công, thiệt thòi, cay đắng và đó cũng là biểu hiện của tinh thần vươn dậy mạnh mẽ, tinh thần đấu tranh với những nghịch cảnh để có được hạnh phúc của một người phụ nữ đã đi qua nhiều bi kịch và mang nhiều khát vọng. Nghệ thuật đối trong hai câu luận đã nhấn mạnh nỗi uất ức muốn chỉ trời vạch đất để thể hiện sự căm phẫn, tủi hờn trong lòng và phép đối cũng tô đậm sự bướng bỉnh, ngang ngạch của một con người không bao giờ tuyệt vọng, tha thiết tình yêu với cuộc sống. Với hai câu thơ này, người đọc thấy rõ hơn chân dung nữ sĩ Hồ Xuân Hương, gương mặt độc đáo nhất trong các nhà thơ nữ của văn học trung đại, cá tính mạnh mẽ, bản lĩnh cứng cỏi, khát vọng mãnh liệt. Tất cả làm nên một vẻ đẹp thống nhất về con người Hồ Xuân Hương, về thơ ca Hồ Xuân Hương. Đó là bởi tình yêu cuộc sống, là khát khao hạnh phúc cháy bỏng, tinh thần tranh đấu để có được hạnh phúc mà mình mong đợi.

     Hai câu kết bộc lộ tâm trạng ngao ngán chán chường: 

“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!” 

Đây là tâm trạng của nhân vật trữ tình trước thời gian đi rồi không trở lại của đời người mà thời gian tạo hoá, đất trời thì việc tuần hoàn càng làm tăng thêm nỗi niềm ngao ngán của con người. Chữ “xuân” mang nhiều nghĩa, vừa là để chỉ mùa xuân đất trời, mùa xuân ấy theo quy luật tự nhiên đi rồi trở lại, một quy luật tất yếu từ muôn đời. Và chữ “xuân” còn ẩn dụ cho tuổi trẻ của con người. Khác với xuân đất trời, tuổi xuân của con người một đi không trở lại. Chính vì thế, khi mùa xuân đất trời trở lại cũng là lúc xuân của tuổi trẻ ra đu và không bao giờ quay trở lại. Lòng người vì thế mà ngao ngán, chán chường. Hai chữ “lại” đặt liền nhau với hai nghĩa khác nhau, chữ “lại” thứ nhất mang nghĩa thêm một lần nữa, chữ “lại” thứ hai để chỉ sự trở lại và không chỉ để nhấn mạnh làm rõ hơn nỗi ngao ngán khi thấy lại mùa xuân mà còn hàm chứa ẩn ý tâm thế miễn cưỡng khi chứng kiến mùa xuân trở lại với con người. Bởi nhân vật trữ tình ý thứ được rằng mùa xuân trở lại đồng nghĩa mùa xuân đời người ra đi và cũng có nghĩa những cơ hội về hạnh phúc ngày càng ít ỏi, hiếm hoi đối với con người. Chính vì vậy, khi đọc câu thơ ta không chỉ thấy chán chường mà ta thấy sự ngậm ngùi, cay đắng, nỗi thấm thía duyên phận hẩm hiu.

     Câu thơ cuối được nhà thơ vận dụng nghệ thuật biểu đạt tăng tiến: đã là “mảnh tình” lại còn “san sẻ” chỉ còn lại “tí con con”. “Mảnh tình” đã là một tình cảm không trọn vẹn, đủ đầy lại bị “san sẻ” đi cứ dần ít ỏi đi cho đến cuối cùng, cái còn lại chỉ là một chút gì đó không đủ để đem lại cho con người niềm vui và hạnh phúc, sự ấm áp của những tình cảm luôn cần có trong cuộc đời. Hình thức câu thơ là câu cảm thán càng gợi rõ tâm tư của nhân vật trữ tình như một lời than thở, tiếng thở dàu ẩn chứa nỗi xót xa, chua chát cho chính mình. Hai câu kết dù bộc lộ nỗi cay đắng, nỗi chưa xót về duyên phận hẩm hiu nhưng người đọc có thể thấy: dù có ngao ngán trước một duyên tình không trọn vẹn, trước những khao khát vẫn chỉ là mong ước, độc giả có thể thấy chưa bao giờ Hồ Xuân Hương tuyệt vọng, buông xuôi để mặc theo sự đẩy đưa của số phận. Mà mỗi lần đối mặt với bi kịch là một lần khát vọng sức sống trong thơ Hồ Xuân Hương trỗi dậy mạnh mẽ để vượt qua nghịch cảnh và để tiến tới khát vọng hạnh phúc. 

     Bài thơ “Tự tình” là nỗi lòng của Hồ Xuân Hương. Giọng thơ từ chua chát đến oán hờn, thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh và chứa đựng niềm khao khát hạnh phúc muốn bứt phá vượt lên khỏi vòng kiềm toả của giáo lý khắt khe nhưng cuối cùng cũng không khỏi xót xa buồn tủi. Vì hấp thu và phát huy được vốn văn nghệ dân gian phong phú, Hồ Xuân Hương đã dùng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật một cách Việt hoá rất độc đáo. Nhịp thơ uyển chuyển, nhiều câu phá vỡ khuôn nhịp cũ của thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Sử dụng nghệt thuật thơ tả cảnh độc đáo bằng ngôn ngữ của nhân dân nôm na giản dị nhưng có giá trị gợi tả về hình ảnh cũng như về âm thanh. Ngoài ra thù bút pháp tả thực của bà cũng rất sắc sảo, tài tình mang hơi văn rất mạnh. 

Viết về hình ảnh và thân phận của người phụ nữ một cách sáy sắc và đầy bản lĩnh, Hồ Xuân Hương không chỉ nói về thân phận mình mà còn là tiếng nói cảm thông với số phận bất hạnh của người phụ nữ tự ý thức cả được vẻ đẹp hình thể và tâm hồn mình nhưng phải chịu đựng biết bất công trong xã hội. Tiếng nói ấy sẽ còn tìm được sự đồng cảm và đón nhận của những người phụ nữ nói riêng và con người nói chung trong mọi thời đại.

Cảm nhận vẻ đẹp Tú Xương qua “Thương vợ”

Các nhà thơ Nho sĩ thường hiếm khi viết về người vợ, nhất là khi người vợ còn sống. Lịch sử mười thế kỉ văn học trung đại với hàng nghìn tác giả, hàng vạn tác phẩm, song số tác phẩm viết về người vợ rất hiếm hoi. Có chăng các thi sĩ thường làm đối, trướng khóc vợ khi các bà qua đời như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Ngô Thi Sĩ… Nhưng Tú Xương thì khác, người vợ đã trở thành hình tượng với ý nghĩa đầy đủ nhất. Hình ảnh bà Tú trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của ông với cách gọi thân mật dân dã: “bu nó, mình…”. Đặc biệt bài thơ “Thương vợ” tiêu biểu nhất trong đề tài về người vợ của Tú Xương, ta không chỉ thấy được vẻ đẹp của bà Tú mà còn cảm nhận được những vẻ đẹp của ông Tú khuất lấp theo sau:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không!”

     Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương, sống trong buổi giao thời đầy nghèo khổ nửa thực dân Pháp – nửa phong kiến. Ông là người thông minh, ham học, hào hoa, phóng túng, có tài làm thơ hay nhưng lại lận đận trên con đường thi cử. Kho tàng thơ văn của Tú Xương tuy không nhiều nhưng có nhiều bài rất đặc sắc, đạt đến trình độ tuyệt mỹ về cả nội dung và nghệ thuật và được xem như những bài thơ bất tử. Minh chứng rõ ràng nhất đó là thi phẩm “Thương vợ” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. 

     Mở đầu tác phẩm, Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinh của bà Tú, qua đó thể hiện lòng thấu hiểu nỗi nhọc nhằn, vất vả và sự biết ơn của bản thân đối với người vợ tần tảo: 

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.” 

Hai chữ “quanh năm” là để chỉ thời gian với sự nối tiếp ngày này qua tháng khác không ngừng nghỉ. Nhà thơ đã mượn hai chữ “quanh năm”, mượn chiều dài thời gian năm tháng để diễn tả nỗi vất vả của bà Tú, không phải nỗi vất vả được đo đếm bằng ngày, bằng tháng hay bằng năm mà là hết năm này qua năm khác. Nghĩa là sự vất vả của bà Tú cứ nối tiếp theo chiều dài của thời gian năm tháng, theo tuần tự của cả đời người. Sự lặp đi lặp lại không chỉ nói lên chiều dài của nỗi vất vả mà còn khắc sâu nỗi nhọc nhằn ấy với chiều dài thời gian tuần hoàn trói buộc cuộc đời bà Tú không có lối thoát. Người dân lao động xưa, muốn nói cảnh làm ăn cơ cực của mình – cũng một cách triệt để để tạo ra thành ngữ “quanh năm tận tháng” bên cạnh thành ngữ “đầu tắt mặt tối”. Ông Tú học cách nghĩ, cách nói đó của quần chúng để ghi công lao của bà Tú về mặt thời gian lao động.

     Câu thơ không chỉ nhấn mạnh thời gian của sự khó nhọc mà còn cho người đọc thấy nơi chốn bán buôi của bà Tú là ở “mom sông”, đó là phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông. Mom sông Vị là nơi đầu chỗ sông Vị Hoàng chảy thông ra sông Nam Định. Thời sông Vị Hoàng chưa bị lấp thì mom sông này là nơi buôn bán của bà con tiểu thương, thuyền bè qua lại hay đậu ờ đấy. Bà Tú có ngôi hàng buôn chung gạo với người khác ở mom sông đó. Về sau, sông Vị Hoàng bị lấp. Chốn buôn bán của bà Tú cũng tàn lụi theo. Nhưng như Xuân Diệu nhận xét (ngay khi sông Vị Hoàng chưa bị lấp): “Ở mom là cheo leo, chênh vênh chứ không phải ở một cái bến ngang sông tấp nập bình thường.” Nơi chốn ấy gợi sự chênh vênh càng làm cho người đọc dễ dàng hình dung địa thế mấp mô, công việc của bà Tú không chỉ vất vả mà còn có sự nguy hiểm rình rập chực chờ. Thế nhưng bà Tú chẳng nề hà, sẵn sàng chấp nhận mọi khó nhọc để đua tài “buôn chín bán mười” ở “đầu sông cuối bãi” – cái mom sông chênh vênh, nguy hiểm ấy quanh năm vẫn thấy thấp thoáng bóng bà với gánh nặng trên vai.

     Ở câu thừa đề, Tú Xương đã dùng số từ để diễn tả gánh nặng mưu sinh của bà Tú. Để người đọc có thể cảm nhận được ý tứ sâu xa trong lời thơ, Xuân Diệu đã chọn một cách diễn đạt khác vẫn đảm bảo được ý về nghĩa nhưng không đặc sắc như câu thơ của Tú Xương: 

“Nuôi đủ chồng con cả sáu người” 

Tú Xương không chọn một con số để biểu đạt chung gánh nặng của bà Tú phải gánh gồng, thay vào đó, ông tách riêng “năm” và “một” rồi đặt giữa các con số liên từ “với” giống như phép cộng. Từ đó đem đến cảm giác gánh nặng trên đôi vai bà Tú lại càng trở nên lớn lao, nặng nề hơn. Đồng thời, tách riêng còn đem lại cảm nhận về một gánh nặng rất cân xứng mà bà Tú phải gánh vác, một bên là năm đứa con thơ, một bên là ông Tú. Tú Xương đã đặt dụng ý vào trong việc tách riêng con số thể hiện sự tự ý thức của nhà thơ về nỗi vất vả của vợ, nuôi con là trách nhiệm của người mẹ, nuôi chồng là gánh nặng của người vợ. Thêm nữa, khi tách riêng ông Tú với các con, câu thơ đã cho ta thêm cảm nhận rằng bà Tú nuôi ông Tú vất vả bằng năm đứa con. Xuân Diệu có nhận xét rất hay khi đọc câu thơ này: “Thì ra chồng cũng là một thứ con còn dại, phải nuôi. Đếm con, năm con, chứ ai lại đếm chồng, một chồng – tại vì phải nuôi như nuôi con cho nên mới liệt ngang hàng mà đếm đế nuôi đủ”. Mà bà Tú nuôi chồng đâu có đơn giản như nuôi con. Cơm ăn đã đành, đôi khi phải có tí rượu tí trà cho ông ngâm nga câu thơ câu phú. Áo mặc đã đành, còn phải có bộ cánh tử tế cho ông đi đây đi đó, chứ ai lại để cho ông quanh năm 

“Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông”

và 

“Một đoàn rách rưới con như bố”

Lại phải cho ông xổng xểnh ít tiền trong túi để gặp bạn, gặp bè. Ấy thế mà bà nuôi đủ, tức là đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong “Phú thầy đồ dạy học” Tú Xương đã viết về bà Tú: 

“Cơm hai bữa: cá kho rau muống

Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô”

Chữ “đủ” đã nói được hết nỗi vất vả nhọc nhằn cũng như tình yêu thương chồng con của bà Tú. Đây là hai câu thơ ông Tú viết về người vợ của mình cho nên ta không chỉ thấy hình ảnh bà Tú còn thấy tâm tư ông Tú, một người chồng ý thức được sự đoảng vị của mình nên càng tôn trọng bà Tú, thay các con nói lời tri ân với bà Tú.

     Đến với hai câu thực, Tú Xương trở lại với hình ảnh vốn quen thuộc với thơ ca dân gian. 

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,”

Đó là hình ảnh “con cò”, đây cũng là hình ảnh gợi thân phận cuộc đời người phụ nữ thường chịu nhiều thiệt thòi, bất công trong xã hội cũ:

“Con cò mà đi ăn đêm 

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”

hay 

“Con cò bay lả bay la

Bay từ đồng ruộng bay ra cánh đồng” 

Trở lại với hình ảnh đã quen thuộc với thơ cơ dân gian, Tú Xương đã ghi dấu ấn sáng tạo của mình:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

Trong thơ ca dân gian, dùng cách diễn đạt để chỉ chung “con cò” để nói về nhiều thân phận người phụ nữ còn Tú Xương chọn lối biểu đạt có tính xác định cụ thể “thân cò” để gợi rõ, chỉ rõ đến bà Tú. Và cách diễn đạt “thân cò” biểu đạt hơn nữa nỗi nhọc nhằn, tủi thân kết hợp với phép đảo ngữ với từ láy tượng hình “lặn lội” ở đầu dòng thơ để miêu tả hình ảnh bà Tú lam lũ vất vả và cũng chất chứa nỗi tủi phận khi phải gánh vác một mình. Câu thơ vận dụng phép tiểu đối lấy không gian rợn ngợp mênh mông “quãng vắng” đối với hình ảnh “thân cò” để tô đậm hơn nữa sự nhỏ bé, lẻ loi của người phụ nữ phải lo toan, gánh vác một mình. Bóng dáng nhỏ bé của bà Tú trông sao mà tội nghiệp, mà xót xa. 

     Câu tiếp theo trong cặp câu thực thể hiện sự đăng đối khi cũng  dùng phép đảo ngữ và từ láy đặt lên vị trí đầu dòng thơ. 

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Nhưng nếu dòng thơ trên là từ láy tượng hình để gợi hình dung về một bà Tú không được nương dựa vào người chồng của mình thì “eo sèo” lại là từ láy tượng thanh mở ra cảm nhận về không gian nơi chốn bán buôn của bà Tú. “Eo sèo” là cãi vã để tranh hàng, giành khách của nhau. Trong bài “Văn tế sống vợ”  ông Tú một lần nữa đã gợi đến cái cực này của bà Tú: 

“Đầu sông, bãi bến, đua tài buôn chín bán mười”

Cũng với từ láy ấy, tác giả đã cho người đọc thấy được đó là một nơi chốn phức tạp, xô bồ với những âm thanh tranh giành, của tiếng kì kèo cãi cọ, một nơi chốn không phù hợp với xuất thân dòng dõi như bà Tú; vậy mà vì gánh nặng mưu sinh, vì chồng vì con, bà phải dấn thân. Không gian mặt nước không chỉ để nói nơi bán buôn “mom sông” mà gắn với cụm tự “buổi đò đông” còn cho ta thấy câu thơ là một lời dặn dò trong thơ dân gian 

“Con ơi nhớ lấy câu này 

Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua” 

Từ đó có thể hiểu thêm công việc bán buôn của bà Tú không chỉ vất vả mà còn phải đối diện cả những nguy hiểm rình rập. Qua đó tô đậm sự hi sinh, vất vả, chịu thương chịu khó của bà Tú đối với cha con ông Tú. 

Hai câu thơ là những cảm nhận của ông Tú về công việc của bà Tú và chính vì vậy ta không chỉ thấy được sự tảo tần, lo toan gánh vác, nỗi nhọc nhằn và cả niềm tủi phận của bà Tú mà ta còn cảm nhận được cảm xúc của ông Tú. Trước hết là ý thức được sự đoảng vị của mình, thấm thía sự hi sinh của người vợ, có cả những day dứt khi không làm được gì nhiều để có thể đỡ đần, để có thể trở thành người bà Tú nương dựa lúc bà cần một người để sẻ chia.

     Không chỉ mang vẻ đẹp của sự tần tảo sớm khuya, của tinh thần chịu thương chịu khó mà đặc biệt hơn cả, bà Tú làm tất cả vì tình yêu chồng thương con sâu sắc. 

“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.” 

Tú Xương tiếp tục trở lại với việc vận dụng số từ nhưng khác với hai câu đề tách số từ “năm” và “một” tạo thành phép cộng; ở hai câu luận, số từ được biểu đạt ở cấp số nhân. Và cũng khác khi ở hai câu này dùng lối biểu đạt tăng tiến, những số từ ấy gắn với những chữ “duyên – nợ” và “nắng – mưa”. Chữ “duyên” vố là từ gốc ở đạo Phật sau được dùng trong đời sống để chỉ duyên phận, duyên tình của con người. Theo quan niệm dân gian, chữ “duyên” là để nói tình cảm hạnh phúc vợ chồng, ngược lại là “nợ” 

“Cành tre năm bảy cành tre

Phải duyên thì lấy chớ nghe họ hàng” 

hay 

“Chồng gì anh vợ gì tôi 

Chẳng qua là cái nợ đời mà thôi” 

Trong câu thơ của Tú Xương, với số từ “một – hai”, duyên thì ít, nợ thì nhiều. Nghĩa là trong sự gắn kết  với ông Tú, bà Tú được vui với duyên thì ít mà vất vả, nhọc nhằn thì nhiều. Và thành ngữ “năm nắng mười mưa” đã đem lại cho người đọc hành dung môth cách cuu thể về cuộc sống bán buôn vất cả của bà Tú. Nếu câu thơ 

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

là gợi về sự tảo tần sớm khuya thì câu thơ 

“Năm nắng, mười mưa, dám quản công” 

lại cho ta thấy sự dãi dầu nắng mưa không kể ngày tháng, không quản ngại thời tiết dù nắng cháy hay mưa giông. Nghệ thuật đối trong hai câu thơ không chỉ cho ta thấy rõ hơn nỗi vất vả của bà Tú mà còn làm sáng lên phẩm chất nhẫn nhịn, thương yêu của bà dành cho cha con ông Tú: “âu đành phận” và “dám quản công”. Bà Tú nhận về mình tất cả những thiệt thòi, nhẫn nhịn không lời than trách dành cho ông Tú. 

     Ở hai câu kết, ông Tú đã mượn lời bà Tú tự chửi mình. 

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trong bài “Gặp người ăn xin”, ông cũng đã từng chửi – chửi mình mà thực là chửi đời : 

“Người đói, ta đây cũng chẳng no 

Cha thằng nào có, tiếc không cho”. 

Chỉ có chỗ khác là, lần này, lời chửi tuy có ném vào đời, nhưng trước hết là ném vào mình. Để tự trách mình thì ông Tú phải chửi. Mà phải đặt vào miệng bà Tú mà xỉ vả mình thì mới đích đáng chứ! Nhưng bà Tú vốn “con gái nhà dòng”, đời nào lại chanh chua, thô tục thế, nhất là lại chửi chồng – tuy rằng trong lời chửi, cứ lắng tai mà nghe – có phải ông Tú đã khéo pha vào đó chút thoáng tình tứ của giọng chửi yêu, mắng yêu rồi đó sao? Tiếng chửi của Tú Xương trước hết là hướng về chính mình, về sự hờ hững, về việc không làm tròn được vai trò, trách nhiệm một người chồng, một người cha khiến cho bà Tú phải vất vả, nhọc nhằn. Tiếng chửi này làm cho người đọc thấy rõ hơn về ông Tú – một ông Tú đáng trách thì ít, đáng thông cảm thì nhiều hơn bởi bề ngoài tưởng là hờ hững, tưởng là “ăn ở bạc” để mặc bà Tú phải tự xoay sở trong nỗi tủi phận nhưng thực ra không phải như vậy. Những câu thơ thấu hiểu xót xa dằn vặt của ông Tú đã cho thấy ông không hề vô tình. Hai chữ “thói đời” không chỉ dừng lại ở ẩn ý nói đến ông Tú mà còn gợi nghĩa rộng hơn như vậy, đó là xã hội thực dân phong kiến với những giáo lý khắt khe ràng buộc ông Tú để ông không thể cùng gánh vác gánh nặng mưu sinh của bà Tú. Thêm nữa tiếng chửi thói đời còn là tiếng chửi đương nhiên hướng đến xã hội đầy bất công đối với người phụ nữ. Họ phải chịu thiệt thòi dù với những phẩm chất, giá trị đó, họ xứng đáng có một cuộc sống hạnh phúc. Vậy mà họ phải lo toan, vất vả, hạnh phúc hiếm hoi. 

     Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là “Bà Chúa Thơ Nôm”. Nguyễn Tuân thì gọi Tú Xương là “Ông hoàng thơ Nôm”. “Thương vợ” là một trong những bài thơ thể hiện rất rõ tài thơ Nôm của “Ông hoàng Tú Xương”. “Mom sông”, “Lặn lội thân cò”, “Eo sèo mặt nước”…, chữ dùng chính xác đến mức không thể thay thế bằng ngôn từ nào khác. Mà toàn là những từ ngữ nôm na rất đỗi quen thuộc trong đời sống hằng ngày của nhân dân. “Thương vợ” là một bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường – một thể thơ ngoại nhập được giữ nguyên phép tắc, luật lộ vốn rất chặt chẽ, tề chỉnh. Bài Thương vợ đã tuân theo luật lệ đó một cách nghiêm chỉnh : những câu thực, câu luận đối nhau chan chát. Vậy mà đọc thơ, không hề cảm thấy đây là thơ luật. Lời thơ cứ như lời nói thường, rất tự nhiên. Những câu thực, câu luận dường như tiếp nối nhau trong một mạch, liền một hơi, không ai nghĩ đến chuyện đối từ, đối ý, đối thanh bằng bằng trắc trắc,… Nghệ thuật như vậy là đã đạt đến chỗ tinh vi, nhuần nhuyễn nhất, thật sự trở thành sự sống thể hiện cái tài của nhà thơ. 

Có một con người không xuất hiện trực tiếp là ông Tú, nhưng con mắt và trái tim của ông thì luôn luôn hiện hữu. Con mắt ông nhìn thấy rõ mọi nỗi đắng cay cực nhọc hàng ngày, và con tim thì thấu hiểu những nỗi cô đơn, tâm trạng âm thầm chịu đựng của bà. Bài thơ “Thương vợ” là một bản tự kiểm điểm, tự khiển trách hết sức chân thành và nghiêm khắc của Tú Xương. Mỗi lời thơ như một tiếng thở dài đau xót của một con người rất có ý thức trách nhiệm, nhưng bất lực. Đó là tấm lòng thương yêu cảm phục và biết ơn rất chân thành của người chồng đối với người vợ vì mình mà chịu nhiều đắng cay vất vả.

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Khuyến được thể hiện qua “Thu điếu”

     Nguyễn Khuyến là một con người luôn mang nỗi đau đời, đau cho nhân tình thế thái. Cũng đã có một thời ông ra làm quan nhưng ngày đêm vẫn canh cánh trong lòng những nỗi niềm tất cả về cuộc sống. Triều đình nhà Nguyễn được gây cho ông một vết thương lòng nhức buốt. Vậy nên Nguyễn Khuyến trở về quê làm bạn với cỏ cây, chim muông, núi đồi và cả một cuộc đời chan hoà giữa lòng nhân dân. Có lẽ phải nói rằng chính cuộc sống nơi thôn quê bình lặng đã làm cho Nguyễn Khuyến có được những vần thơ mang giá trị để đời. Là một người đã từng quan mười năm ấy vậy mà khi trở về quê, ông lại rất dễ dàng bắt nhịp với cuộc sống của những người nông dân khổ cực, bởi sâu xa hơn hết, ông có một tình yêu thiên nhiên, đất nước sâu đậm. Vẻ đẹp tâm hồn của ông được thể hiện một cách tinh tế và chân thực qua bài thơ “Thu điếu” 

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo,

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

     “Thu điếu” nằm trong chùm ba bài thơ viết về đề tài hết sức quen thuộc – mùa thu của Nguyễn Khuyến. Nhà thơ sáng tác bài thơ này khi mùa thu trải rộng trên bầu trời vùng quê nông thôn thanh bình yên tĩnh. Nguyễn Khuyến dùng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật viết thơ về quê ở ẩn vui những thú vui tuổi già đó là đi câu cá, đồng thời ngắm nhìn cảnh tượng mùa thu tinh tế, trong trẻo diễn ra lặng lẽ êm đềm. 

     Bức tranh mùa thu trước tiên được khắc hoạ theo điểm nhìn từ gần đến xa 

”Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo,”

Cảnh sắc ở “Thu điếu” không phải là mùa thu phương Bắc:

“Lác đác rừng phong hạt móc sa 

Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa.” 

(Đỗ Phủ)

Càng không phải mùa thu phương Tây:

“Gió bấc thổi cành cây khô héo 

Rơi đó đây khắp nẻo lòng thung 

Từng hồi lá rụng mặt đường.” 

(Jacques Delille – Phạm Nguyên Phẩm dịch)

mà đích thị là mùa thu đẹp tuyệt vời của vùng chiêm trũng Bắc Bộ Việt Nam. Có thể thấy khi đặt bài thơ cạnh “Thu vịnh” và “Thu ẩm” ta sẽ nhận ra sự phong phú về cách đón nhận cảnh thu của nhà thơ. Khác với “Thu điếu”, “Thu vịnh” đón nhận cảnh thu từ xa đến gần, còn “Thu ẩm” cũng là điểm nhìn từ gần đến xa nhưng khác không gian của “Câu cá mùa thu”. Trong “Thu điếu”, cảnh thu bắt đầu bằng 

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” 

Mở đầu bài thơ là hình ảnh cái ao làng mùa thu – một hình ảnh hết sức quen thuộc ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Và từ đây, mọi cảnh vật trong bài thơ đều xoay quanh cái ao ấy, lấy cái ao làm điểm nhìn nghệ thuật. Hơi thu man mác, lạnh lẽo, trầm buồn từ làn nước mùa thu “trong veo” đang lan toả thấm dần vào từng hơi gió. Hình ảnh ao thu được miêu tả với nhiều tính từ “lạnh lẽo”, “trong veo” để không cần biểu đạt trực tiếp vẫn gợi được thời điểm của bức tranh mùa thu: đó là cuối thu đầu đông khi mà ta đã bắt đầu cảm nhận được cái lạnh của làn nước mùa thu và độ trong có thể nhìn tới tận đáy nước. Là do tiết trời cuối thu thường hanh khô nên nước lắng lại rất trong. Vần “eo” gợi tưởng tượng về không gian ao thu tròn nhỏ rất xinh xắn và đây cũng là đặc trưng của vùng đất chiêm trũng quê hương Nguyễn Khuyến có nhiều ao nhỏ và thường rất sâu. 

     Nhà thơ đã thêm sự vật cho cảnh cũng như điểm thêm nét vào bức tranh mùa thu, Nguyễn Khuyến vẽ thêm hình ảnh chiếc thuyền câu vào không gian ao thu kết hợp với lối biểu đạt tăng tiến “một” đến “bé” và “tẻo teo”. Thuyền câu là chiếc thuyền thúng rất nhỏ lại gắn với số từ “một” tăng thêm sự ít ỏi. Nhà thơ một lần nữa sử dụng vần “eo” với “bé tẻo teo” nhấn mạnh sự nhỏ bé của chiếc thuyền. Lúc này cảnh có sự tương hợp với nhau, ao nhỏ nên thuyền cũng nhỏ và dù chưa có một từ nào nói đến hình ảnh con người nhưng lời thơ, hình ảnh thơ vẫn gợi thấp thoáng bóng dáng con người hình như cũng đang thu mình trên chiếc thuyền câu bé nhỏ, hoà mình vào cảnh giữa cái tĩnh lặng của cảnh thu. 

     Tiếp nối hình ảnh ao thu ở hai câu đề, Nguyễn Khuyến đã miêu tả vẻ đẹp của bức tranh làng quê với những nét rất đặc trưng. 

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” 

Cụ Tam nguyên Yên Đổ đã vẽ thêm những hình ảnh: sóng, lá và gió thu vào bức tranh khung cảnh mùa thu rộng lớn. Thơ viết về mùa thu xưa nay sao có thể thiếu lá vàng: 

“Đây mùa thu tới, mùa thu tới 

Với áo mơ phai dệt lá vàng.”

(“Đây mùa thu tới” – Xuân Diệu)

hay như nhà thơ Chu Long đã từng viết trong bài “Nắng thu” 

“Nắng thu nhẹ lá vàng bay” 

Nguyễn Khuyến cũng sử dụng những hình rất đặc trưng ấy của mùa thu nhưng đặc biệt trong hai câu thơ này, thi nhân đã sử dụng phép đối đạt đến độ chuẩn mực, đối từ hình ảnh “sóng – lá”, đến màu sắc “biếc – vàng” và cả sự vận động “hơi gợn tí – khẽ đưa vèo”. Nghệ thuật đối giữa hình ảnh và màu sắc “sóng biếc – lá vàng” còn cho người đọc thấy sự tài tình của nhà thơ khi đem hoạ và thơ, thi trung hữu hoạ. Hình ảnh không chỉ tạo nên sự đăng đối vừa tương phản vừa hài hoà để tạo nên sắc màu cho bức tranh thu, làm nên sự tươi sáng của cảnh thu mà tác giả còn thành công khi lấy sắc xanh của sóng làm nổi bật màu vàng của lá. Màu “biếc” cho ta cảm nhận được cả độ trong có thể nhìn thấy của sắc trời và lấp lánh cả ánh nắng mùa thu. Đây cũng là màu sắc đặc trưng của nước mùa thu trong “Thu vịnh” 

“Nước biếc trông như tầng khói phủ” 

Cảnh thu không chỉ có sóng, lá mà còn có gió, người đọc có thể thấy sự tương giao giữa sóng, lá và gió thu. Cho nên từ sự vận động của sóng và lá, ta đồng thời cảm nhận được sự vận động của gió. Và cũng qua gió để hình dung về tốc độ gợn của sóng, đó hẳn là làn gió nhẹ chỉ đủ để làm mặt nước “hơi gợn tí”. Thế nhưng gió làm lá “đưa vèo”, như vậy lá thu phải rất khô và nhẹ phù hợp với tiết trời hanh khô cuối thu. Nghệ thuật đối còn đem đến cho người đọc thấy được không chỉ là cảnh có sự vận động mà kết hợp với bút pháp lấy động tả tĩnh đem đến hình dung về không gian mùa thu với sự tĩnh lặng trải ra đến mênh mông. Nhà thơ Tản Đà cũng hết lời khen tặng từ “vèo” trong câu thơ này. Thi sĩ bộc bạch rằng cả một đời thơ của mình may ra mới có được câu thơ đắc ý trong thi phẩm “Cảm thu, tiễn thu” 

“Vèo trông lá rụng đầy sân.” 

     Một lần nữa tác giả sử dụng vần “eo” tăng thêm cảm nhận về tốc độ bay của lá đồng thời nhấn mạnh được sự tĩnh lặng của không gian cuối thu. Và những vận động khẽ khàng này không đủ để khuấy động cảnh thu mà lại càng thêm im ắng. Hai câu thơ đã đem đến cho độc giả cảm nhận về một mùa thu với những nét đặc trưng nhất. Cảnh đẹp tươi sáng, trong trẻo với những gam màu sắc dù có đối chọi nhưng vẫn hài hoà và gợi được sự yên bình của mùa lá rụng. 

     Hướng tầm mắt rời xa ao thu, khung cảnh bức tranh mùa thu được ngòi bút của thi nhân diễn tả theo quanh cảnh từ cao xuống thấp. 

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” 

Bầu trời xanh ngắt muôn thuở vẫn là biểu tượng cho vẻ đẹp của mùa thu. Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du cũng đã vẽ lên một bức tranh thu tuyệt đẹp trong một tác phẩm bất tử với thời gian:

“Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.”

(Truyện Kiều)

Nghệ thuật đối trong hình ảnh đã mở không gian rộng và xa hơn, ta thấy được sự rộng mở cả ở trên cao và dưới thấp. Tuy vậy, câu thơ cũng không có sự xa cách giữa bầu trời với mặt đất bởi Nguyễn Khuyến đã dùng từ láy tượng hình kéo gần vòm trời với mặt đất “lơ lửng”. Khác với “Thu vịnh” 

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” 

lại là một bầu trời được mở đến tận cùng, còn “Thu ẩm” thì lại xoáy sâu vào sắc xanh kì lạ khiến con người thấy ngỡ ngàng.

“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” 

Cả ba bài thơ đều vẽ cảnh thu có hình ảnh bầu trời và đều đặc tả màu xanh ngắt với cùng một từ, vậy mà mỗi bài thơ lại là một cảm nhận khác nhau. 

     Không gian mặt đất được thi sĩ miêu tả qua hình ảnh: 

“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” 

Tên gọi những ngõ quê trong dòng thơ đã cho người đọc thấy một đặc trưng của địa hình vùng đất chiêm trũng, nhiều ao nên đường đi uốn lượn theo những đường trúc. Chính vì vậy tăng thêm cảm nhận về sự heo hút của cảnh, càng làm rõ thêm cảm giác sự vắng lặng của cảnh thu đồng thời đem đến cho người đọc cảm nhận sự tĩnh lặng được đẩy đến tận cùng. Đó cũng là mọt nét đặc trưng của mùa thu. Nhìn chung, toàn bộ cảnh sắc mùa thu ở sáu câu thơ đầu tiên được cảm nhận bằng nhiều giác quan tinh tế của thi nhân và được vẽ lại bằng ngòi bút tài hoa của một hoạ sĩ. “Bức tranh thơ chất chứa một giai điệu xanh: xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá rơi” (Xuân Diệu).

     Đến hai câu kết, ta mới thấy xuất hiện hình ảnh con người trong không gian cảnh thu với tư thế: 

“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

Hình ảnh con người gợi cảm nhận sự nhàn tản ung dung, dường như đang thả mình vào không gian đón nhận vẻ đẹp của thiên nhiên với thú vui rất tao nhã. Cũng ở hai câu kết, âm thanh tiếng cá đớp động là âm thanh duy nhất trong toàn bài, thế nhưng Nguyễn Khuyến đã dùng từ không xác định “đâu” với nhiều nét nghĩa. Có thể là đâu đây, cũng có thể là không thấy đâu, cách dùng từ không xác định gắn với tiếng cá làm tăng thêm sự mơ hồ. Có thể là thực nhưng cũng có thể là sự tưởng tượng của nhân vật trữ tình. Trong thơ Đường, thơ Tông, thơ Việt Nam thời trung đại (trước Nguyễn Khuyến) tiếng thu là tiếng chày đập vải, tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng, tiếng dế than ri ri giữa đêm thanh vắng, tiếng lòng rạo rực, nhớ nhung của người cô phụ… Còn trong thơ Nguyễn Khuyến, tiếng thu chính là tiếng “đớp động dưới chân bèo” của một chú cá dưới cái “ao thu lạnh lẽo”. 

     Và khi diễn tả, lời thơ còn nhấn mạnh tâm thế dường như không để tâm đến việc đi câu của con người. Cho nên hoặc không lắng nghe được một cách rõ ràng tiếng cá hoặc chính âm thanh dường như đã làm cho nhân vật trữ tình giật mình chợt tỉnh trở về thực tại. Đi câu chỉ là cái cớ để con người được sống trong không gian cảnh thu, để được suy tư nỗi niềm riêng của mình. Đó có thể là nỗi niềm thời thế rất thường thấy trong các bài thơ của Nguyễn Khuyến. 

     Âm thanh duy nhất trong toàn bài thơ lại là một âm thanh mơ hồ như có như không, vì vậy âm thanh ấy không đủ làm khuấy động cảnh thu mà trái lại càng làm nổi bật sự tĩnh lặng, bút pháp lấy động tả tĩnh một lần nữa khắc sâu sự im ắng của bức tranh mùa thu. Hai câu kết vừa hoàn thiện bức tranh mùa thu với các điệu xanh và có một màu vàng của chiếc lá, bức tranh trong trẻo, tươi sáng, tâm tình mùa thu da diết đã tạo nên cảm nhận về một Nguyễn Khuyến với tình yêu thiên nhiên, tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên. 

     Qua tác phẩm, ta thấy được vẻ đẹp bình dị, quen thuộc của cảnh thu điển hình cho cảnh sắc mùa thu của thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những hình ảnh nhỏ bé, gần gũi với cuộc sống ở làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến trở nên thật sống động trong khung cảnh cao rộng, trong veo của bầu trời. Thiên nhiên đầy sức sống với cuộc sống thanh bình, yên ả – Đó cũng là khát khao muôn đời của những người trí giả yêu nước đương thời. Đồng thời, bài thơ cũng có thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạng thời thế của Nguyễn Khuyến. Bài thơ thất ngôn bát cú với cách gieo vần độc đáo vần “eo” đi vào thơ của Nguyễn Khuyến rất tự nhiên, thoải mái chứ không hề bị gò bó, ép buộc hay khiên cưỡng để lại ấn tượng khó quên cho người đọc. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc trưng của văn học trung đại: chỉ bằng vài nét vẽ tinh tế, mùa thu của thiên nhiên đất trời vùng Bắc Bộ đã hiện lên thật đẹp. Đó cũng là cách để Nguyễn Khuyến thể hiện tình yêu của mình với quê hương, đất nước.

Qua bài thơ “Thu điếu” ta cảm nhận được tất cả tình yêu thiên nhiên, quê hương sâu sắc và nỗi đau thời thế của nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng như sự gắn bó thân thiết với làng quê thôn dã của thi nhân. Nhà thơ đã gửi hồn mình với bao tâm trạng, hoài cảm vào cảnh sắc nước non mùa thu quê hương bằng tiếng Việt trong trẻo mà gợi cảm lạ lùng. “Thu điếu” nói riêng và chùm ba bài thơ thu nói chung mãi mãi sống với tất cả vẻ đẹp, hương sắc và âm thanh của thiên nhiên cây cỏ và xứng đáng nhận được sự yêu mến, đồng cảm của nhiều thế hệ bạn đọc